Xoay dọc điện thoại để tiếp tục sử dụng
Chương 2
Chu Khánh Bằng khép mạnh tập hồ sơ bọc bìa da đen, tiếng gáy sổ đập vào mặt bàn gỗ nghe khô khốc. Những đường nét đồ họa màu đỏ chằng chịt trên màn hình máy tính của Mai Hương như những vết cào buốt nhói vào trực giác nghề nghiệp của anh.
“Không thể ngồi trong phòng máy lạnh mà thẩm định số phận của một trăm hai mươi hộ dân,” Bằng ngẩng lên, nhìn thẳng vào nữ chuyên viên viễn thám. “Muốn biết nét vẽ trên bản đồ bị bẻ cong vì địa chất hay vì lòng tham, chúng ta phải ra tận thực địa. Cậu chuẩn bị máy định vị GPS cầm tay và sổ đo, chúng ta xuống Cồn Bãi ngay bây giờ.”
Mai Hương gật đầu dứt khoát, nhanh thoăn thoắt lưu lại các lớp bản đồ chuyên đề vào ổ cứng rồi khoác ba lô lên vai. Hai người rời khỏi trụ sở Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Nam Hải khi cái nắng ban trưa bắt đầu rọi xuống gay gắt, mang theo hơi nóng hầm hập của một mùa khô khốc liệt.
Chiếc xe bán tải băng qua những cung đường liên huyện gồ ghề bụi mù, đưa họ về phía hạ lưu sông Triều Giang. Càng tiến gần xã Bãi Mặn, cảnh sắc trù phú thường thấy của vùng châu thổ duyên hải càng biến mất, thay vào đó là bức tranh u ám của thiên tai. Dưới lòng các con mương nội đồng, nước đã cạn kiệt trơ đáy bùn nứt toác. Những thửa ruộng lúa đang thì con gái cháy vàng sém từng vạt lớn, mặt ruộng phủ một lớp váng muối trắng xóa như tro bếp. Hạn mặn lịch sử đã khoét sâu vào từng thớ đất, bóp nghẹt sự sống của cả một vùng quê.
Xóm Cồn Bãi hiện ra trước mắt Bằng trong bầu không khí ngột ngạt đến nghẹt thở. Ngay đầu con đường đất dẫn vào xóm, hàng chục người dân đang quây quanh một chiếc xe chở bồn nước ngọt hiếm hoi, chắt chiu từng can nhựa loại hai mươi lít với gương mặt trĩu nặng âu lo. Nước sinh hoạt phải mua với giá đắt đỏ, còn nước tưới tiêu thì hoàn toàn tuyệt vọng. Thế nhưng, đè nặng lên ngực họ lúc này không chỉ có cơn khát của đất trời, mà còn là nỗi phẫn uất trước nguy cơ mất trắng tư liệu sản xuất.
Khắp các gốc phi lao và vách nhà ven đường, những tờ thông báo thu hồi đất của Ủy ban nhân dân huyện Cửa Triều dán nham nhở, nhiều chỗ bị xé rách hoặc bôi mực phản đối. Từng tốp nông dân tụ tập dưới bóng râm, tiếng bàn tán lao xao đầy bức xúc váng cả một góc đầm.
Thấy hai người lạ mặt mang theo ba lô kỹ thuật và máy móc bước xuống xe, đám đông lập tức dạt ra, những ánh mắt dò xét, cảnh giác và hằn học đổ dồn về phía họ.
“Lại cán bộ huyện xuống đo đạc để cưỡng chế đấy à?” Một người đàn ông trung niên quắc mắt, giọng đầy vẻ hằn học. “Về bảo với ông Kiên, dân xóm này thà chết trên bờ ruộng chứ không đời nào chịu nhận mấy đồng bạc bố thí rồi dọn đi đâu!”
Bằng điềm tĩnh dừng bước, tháo mũ bảo hộ và đưa tấm thẻ thanh tra chuyên ngành ra trước mặt bà con. Anh cất giọng đĩnh đạc, ấm áp nhưng rành rọt:
“Thưa bà con, tôi là Chu Khánh Bằng, cán bộ Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh. Chúng tôi về đây không phải để đo đạc cưỡng chế, mà để ghi nhận hiện trạng thực tế và kiểm tra lại toàn bộ mốc giới theo đơn khiếu nại của bà con gửi lên tỉnh.”
Đọc thêm nhiều Truyện Full tại:
Lời giải thích chừng mực và thái độ tôn trọng của Bằng khiến sự căng thẳng chùng xuống đôi chút. Từ trong căn nhà gỗ lợp lá dừa nước gần đó, một bóng người gầy guộc bước ra. Đó là một ông lão chừng ngoài sáu mươi tuổi, nước da đen cháy vì sương gió biển khơi, hai cánh tay gân guốc nổi rõ dưới lớp áo bà ba bạc phếch. Đôi mắt sâu thẳm của lão quầng đỏ vì nhiều đêm mất ngủ, nhưng ánh nhìn vẫn quật cường, sắc sảo.
“Tôi là Bảy Nguyện, đại diện cho bà con Cồn Bãi,” ông lão lên tiếng, giọng rền vang đậm thổ âm duyên hải. “Cậu thanh tra nói nghe lọt tai đấy, nhưng dân ở đây bị lừa nhiều lần rồi. Giấy tờ huyện gửi về bảo đất này là đất công ích lấn chiếm trái phép, không được bồi thường một cắc tiền đất, chỉ hỗ trợ di dời ba cọc ba đồng. Cậu có mắt thì đi theo tôi, xem đất lấn chiếm nó như thế nào!”
Không đợi Bằng đáp lời, Lão Bảy Nguyện quay lưng rảo bước thoăn thoắt về phía bờ đê bao. Bằng ra hiệu cho Mai Hương bám sát, chân anh dẫm lên bờ đất nứt nẻ lạo xạo tiếng tinh thể muối vỡ vụn dưới đế giày bảo hộ.
Lão Bảy dừng lại bên một con mương dẫn nước chạy dài hun hút, chỉ tay xuống những bờ kè được đắp bằng cừ tràm và đá hộc đã ngả màu rêu phong:“Cậu nhìn đi! Hơn ba mươi năm trước, sau đợt di dân năm 1980, chỗ này chỉ là bãi sình lầy ngập mặn toàn sú vẹt, cá bống chạy không lọt. Một trăm hai mươi hộ dân chúng tôi mang cuốc xẻng xuống, đổ bao nhiêu mồ hôi, bao nhiêu mạng người ngã xuống vì sốt rét mới thau chua, rửa mặn được từng tấc đất này. Mỗi con mương, từng bờ bao giữ ngọt đều do tay dân đào đắp mà nên. Chúng tôi đóng thuế nông nghiệp ròng rã cho nhà nước từ thời còn hợp tác xã, biên lai nộp lúa còn đỏ chót, cớ sao bây giờ các ông huyện ký một nét bút là biến thành đất lấn chiếm bất hợp pháp?”
Lồng ngực Bằng thắt lại khi nhìn bàn tay chai sần, nứt nẻ của người nông dân già đang run lên vì xúc động. Ký ức tuổi thơ ở xóm chài nghèo của chính gia đình anh, nơi từng chịu cảnh giải tỏa oan khiên năm xưa, bất chợt ùa về nhức nhối. Anh rút cuốn sổ tay bìa da đen, cẩn thận ghi chép từng chi tiết về mạng lưới mương máng lâu năm mà mắt thường cũng có thể phân biệt được với những công trình lấn chiếm tạm bợ.
Đi thêm chừng vài trăm mét về phía hạ lưu, Lão Bảy đột ngột đứng khựng lại trên một dải đất cao, ngón tay gầy guộc chỉ thẳng sang bờ kênh đối diện, nơi cách xóm Cồn Bãi một nhánh rạch tự nhiên.
Khác hẳn với cảnh hoang tàn, nứt nẻ vì hạn mặn của đất dân, dải đất bãi bồi rộng mênh mông bên kia đang rộn rã tiếng động cơ gầm rú. Hàng chục chiếc xe ủi, xe lu cỡ lớn và đoàn xe tải cắm cờ in dòng chữ “Công ty Cổ phần Đầu tư & Hạ tầng Đại Dương Xanh” đang rầm rộ san lấp cát trắng phẳng lì. Những tấm biển đại quy mô dựng đứng ghi rõ: “Khu dịch vụ hậu cần và kho bãi sinh thái Cửa Triều”.
“Đấy! Cậu thanh tra sáng mắt ra chưa?” Giọng Lão Bảy nghẹn lại trong cơn uất ức tột cùng. “Mười lăm héc-ta bãi bồi ngập mặn sình lầy hoang hóa nguyên vẹn ven sông Triều Giang, vốn là đất bãi bồi công ích do xã quản lý, thì đùng một cái huyện giao trọn cho công ty Đại Dương Xanh của ông Trọng. Ban đầu, cọc tiêu khảo sát kênh đào dẫn ngọt cắm thẳng tắp chạy qua dải đất sình ấy, dân chúng tôi ai cũng mừng vì kênh ngọt sẽ cứu cả cánh đồng mà chẳng ai mất nhà mất đất.”
Lão Bảy siết chặt nắm tay đập mạnh vào thân cây phi lao bên bờ rào:
“Thế mà đùng một cái, tháng trước cán bộ huyện kéo xuống nhổ sạch cọc cũ, cắm mốc mới nắn cong vòng cung tim kênh đâm thẳng vào tim xóm Cồn Bãi! Họ né trọn vẹn mười lăm héc-ta đất của doanh nghiệp, rồi quét sạch nhà cửa, mồ mả ông cha, hoa màu của một trăm hai mươi hộ dân nghèo chúng tôi. Đất của công ty thì được tính tiền bồi thường đất sản xuất kinh doanh bạc tỷ, còn đất mồ hôi nước mắt của dân thì bị gán cho cái tội lấn chiếm để cướp trắng!”
Những lời tố cáo đanh thép của Lão Bảy khớp hoàn toàn với những nghi vấn kỹ thuật mà Bằng và Mai Hương vừa phát hiện trên lớp bản đồ viễn thám tại Sở. Một vệt cong nhân tạo được bẻ ngoặt bằng quyền lực hành chính để phục vụ lợi ích nhóm, bất chấp sinh mạng và sinh kế của hàng trăm con người.
Bằng bước lại gần, ánh mắt kiên định nhìn thẳng vào Lão Bảy:
“Thưa bác, để thanh tra tỉnh có đủ căn cứ pháp lý bác bỏ phương án của huyện và lật lại hồ sơ, chúng cháu bắt buộc phải có chứng cứ vật chất chứng minh quá trình sử dụng đất ổn định, liên tục của bà con từ trước ngày mùng một tháng bảy năm 2004. Bác có còn giữ được giấy tờ gì ngoài những lời khai này không?”
Nghe Bằng hỏi, Lão Bảy Nguyện thoáng giật mình. Ông lão nhìn trừng trừng vào đôi mắt Bằng như muốn dò xét đến tận đáy lòng người cán bộ trẻ. Lão quay đầu nhìn trước ngó sau, thấy mấy người dân trong xóm đang đứng từ xa canh chừng, không có bóng dáng cán bộ xã hay kẻ lạ mặt nào rình rập.
Lão Bảy kéo Bằng lách sâu vào rặng dừa nước rậm rạp bên mép rạch, ghé sát tai anh, hạ giọng thì thầm chỉ đủ hai người nghe:
“Tôi tin cậu là người có lương tâm. Nói cho cậu biết, mấy năm nay cán bộ địa chính xã với người của huyện năm lần bảy lượt xuống vờ mượn hồ sơ để rà soát rồi làm mất, hòng phi tang nguồn gốc đất. Nhưng thằng già này không ngu. Tôi vẫn giấu kín một chiếc hòm gỗ dưới đáy hầm bí mật, bên trong có đủ bộ sổ bộ thuế nông nghiệp và biên lai đóng góp của một trăm hai mươi hộ từ thời hợp tác xã năm 1986. Tôi chưa dám đưa cho ai, vì đưa ra lúc này không khéo chúng nó cho người thủ tiêu mất chứng cứ sống còn của cả xóm!”
- Hết chương 2 -